Góc Nhìn Đầy Đủ Nhất Về Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ FED

842
5/5 - (6 bình chọn)

Góc Nhìn Đầy Đủ Nhất Về Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ FED. Việc tăng lãi suất cơ bản của Fed sẽ làm đồng USD tăng giá, đồng thời làm cho chứng khoán, vàng giảm giá.

FED là gì? Các thành phần của FED

FED là gì?

  • Fed là cụm từ viết tắt của Cục Dự trữ Liên bang (tiếng Anh là Federal Reserve System – Fed) hay Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ. Fed là ngân hàng trung ương của Mỹ đã hoạt động từ năm 1913. Đến nay, Fed được coi là tổ chức tài chính quyền lực nhất trên thế giới. Fed là nơi duy nhất được in tiền đô la Mỹ (USD) và đưa ra các chính sách tiền tệ không chỉ ảnh hưởng tới Mỹ mà còn rất nhiều quốc gia khác trên thế giới.
  • Fed được ra đời trên theo đạo luật mang tên “Federal Reserve Act” (Đạo luật Dự trữ liên bang) – đạo luật được ký bởi Tổng thống Woodrow Wilson. Đạo luật này ra đời nhằm mục đích duy trì các chính sách tiền tệ linh hoạt, an toàn và ổn định cho Hoa Kỳ. Kho dự trữ của Fed còn là nơi tập trung lượng tiền và vàng nhiều nhất thế giới. Ngân hàng New York thuộc Cục dự trữ Liên bang Mỹ hiện đang dự trữ 25% lượng vàng trên thế giới và hầu hết là vàng của nước ngoài gửi.

Góc Nhìn Đầy Đủ Nhất Về Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ FED

FED ĐƯỢC TỔ CHỨC NHƯ THẾ NÀO?

Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ có cơ cấu tổ chức bao gồm:

  • Hội đồng Thống đốc gồm 7 thành viên và có nhiệm kỳ 14 năm. Tất cả do tổng thống Mỹ chỉ định và phải được thông qua từ Thượng viện. Đây là bộ phận cấp cao của Fed, là những người đưa ra các quyết định chiến lược về chính sách tiền tệ.
  • Ủy ban Thị trường mở (FOMC): gồm 7 thành viên của Hội đồng Thống đốc và 5 chủ tịch ngân hàng chi nhánh. Nhiệm vụ chính là thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường mở.
  • 12 ngân hàng của Fed được đặt tại các thành phố lớn như: Boston, New York, Cleveland, Richmond, Chicago, Philadelphia, Atlanta, St. Louis, Kansas City, Dallas, Francisco và Minneapolis.
  • Các ngân hàng thành viên.

Bản chất và vai trò chính của Fed

Theo Hội đồng Thống đốc (Federal Reserve Board), bản chất và vai trò chính của Fed là:

  • Thực thi các chính sách tiền tệ quốc gia bằng cách tác động các điều kiện tiền tệ và tín dụng với mục đích tối đa việc làm, ổn định giá cả và điều hòa lãi suất dài hạn.
  • Giám sát và quy định các tổ chức ngân hàng đảm bảo hệ thống tài chính và ngân hàng quốc gia an toàn, vững vàng và bảo đảm quyền tín dụng của người tiêu dùng.
  • Duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống có thể phát sinh trên thị trường tài chính.
  • Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức quản lý tài sản có giá trị, các tổ chức chính thức nước ngoài và Chính phủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt trong vận hành hệ thống chi trả quốc gia.
  • Về lý thuyết, việc tăng lãi suất cơ bản của Fed tất yếu sẽ làm cho đồng USD tăng giá và đồng thời làm cho vàng, chứng khoán và các đồng tiền khác giảm giá. Khi lãi suất của USD tăng lên thì giá trị của USD tăng so với các đồng tiền khác. Nhà đầu tư mua USD nhiều hơn, cũng có nghĩa là dòng vốn vào thị trường vàng và chứng khoán giảm tuân theo nguyên lý “lãi suất và thị giá chứng khoán luôn có sự biến động ngược chiều”.

Những điều cần biết về FED

1. Các thành phố được chọn hoàn toàn ngẫu nhiên

  • Điều này nghe có vẻ kỳ lạ. Khi Quốc hội Mỹ bỏ phiếu về Đạo luật Dự trữ liên bang năm 1913, đã có rất nhiều ý kiến trì hoãn. Ví dụ, thượng nghị sĩ đến từ bang Missouri chỉ đồng ý nếu bang của ông trở thành bang duy nhất có 2 ngân hàng chi nhánh.

2. Tại sao nước Mỹ phải có Fed?

  • Như đã đề cập ở trên, nước Mỹ đã không có Cục dự trữ liên bang trong một thời gian dài. Điều đó có nghĩa cuối thế kỷ 19 là thời kỳ của những cú sốc kinh tế không thể kiểm soát. Chỉ đến năm 1907, khi chứng khoán giảm 50% và người gửi tiền đổ xô đến ngân hàng để rút tiền, người ta mới “hâm nóng” lại ý tưởng thành lập NHTW và cuối cùng cũng được Thượng viện cũng thông qua.

3. Fed sẽ kiểm soát các cú sốc kinh tế? Bằng cách nào?

  • Chúng ta đều biết rằng khi bạn gửi một khoản tiền, tiền không nằm im trong két sắt của ngân hàng cho đến khi bạn cần tiền và muốn rút tiền. Hầu hết số tiền được đem đi đầu tư và đây cũng chính là cách các ngân hàng làm ra tiền. Tất nhiên, có những luật lệ quy định số tiền dự trữ ngân hàng buộc phải có. Nhưng, vấn đề nằm ở chỗ: điều gì sẽ xảy ra nếu như tất cả người gửi tiền đều muốn rút tiền tại cùng một thời điểm?
  • Đây chính là lúc Fed phải thực hiện vai trò của nó: người cho vay cuối cùng.

4. Bằng cách nào?

  • Câu trả lời có thể làm bạn hoảng sợ. Fed có quyền lực đặc biệt: in tiền. Theo lý thuyết, Fed có thể in tiền để giải cứu cá nhân hoặc tổ chức. Với vai trò là đồng tiền pháp định, đồng bạc xanh không bị neo vào bất cứ thứ gì (chế độ neo đồng USD vào vàng kết thúc từ năm 1971).
  • Nếu bạn nhận định Mỹ đang trở thành Hy Lạp, điều đó hoàn toàn sai. Hy Lạp không có đồng tiền của riêng họ và phải được cứu bởi NHTW châu Âu. Mỹ thì khác, Fed có thể in thêm tiền!

5. Điều này không bền vững?

  • In thêm tiền không giống như việc chỉ ngồi một chỗ và đổ một xe tải chất đầy những tờ bạc 100 USD vào nền kinh tế. Rất nhiều chính phủ đã cố gắng làm như vậy và điều tồi tệ đã xảy ra. Tin tốt ở đây là Fed theo dõi lạm phát rất chặt chẽ.
  • Ban đầu, Fed tồn tại chỉ để kéo dài thời gian cho các ngân hàng hoặc định chế tài chính khi họ bị rút tiền ồ ạt. Tất nhiên, đã 100 năm trôi qua và những sự kiện như khủng hoảng tài chính đã thúc đẩy Fed thực hiện thêm những nhiệm vụ mới.

6. Giờ đây Fed làm những gì?

  • Fed đưa ra các chính sách tiền tệ nhằm củng cố sức khỏe của nền kinh tế. Chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến lãi suất và sau đó là nền kinh tế. Thông qua chính sách tiền tệ, Fed có thể can thiệp theo một số cách:

1. Lãi suất chiết khấu: là lãi suất của các khoản vay mà các ngân hàng thương mại và các định chế nhận tiền gửi khác nhận được từ các chi nhánh của Fed.

2. Dự trữ bắt buộc: số tiền mà ngân hàng phải dự trữ. Fed sử dụng công cụ này để kiểm soát số tiền mà các ngân hàng có thể cho vay.

3. Hoạt động thị trường mở (OMO): có thể bạn đã từng nghe về việc Fed mua tài sản trong chương trình nới lỏng định lượng (QE). Các hoạt động trên thị trường mở cũng có cơ chế tương tự như vậy. Fed sử dụng chúng (mua trái phiếu trên thị trường mở) để điều chỉnh lãi suất liên bang theo mục tiêu cụ thể (lãi suất liên bang là thước đo để kiểm soát các khoản vay liên ngân hàng).
  • Khi Fed giảm lãi suất liên bang (như đã làm kể từ khi khủng hoảng nổ ra), nó khuyến khích các ngân hàng cho vay nhiều hơn và từ đó thúc đẩy tăng trưởng. Ngược lại, nâng lãi suất liên bang có nghĩa là Fed cho rằng hệ thống đang quá lỏng lẻo và có thể tạo ra bong bóng.
  • Với nền kinh tế ở trong giai đoạn hồi phục như hiện nay, Fed muốn giữ lãi suất ở mức thấp nhất có thể. Kể từ 2009, lãi suất đã luôn ở mức 0% (xem bảng bên).

7. Fed có thể sử dụng biện pháp tiền tệ nào khi lãi suất đã ở mức 0?

  • Đó chính là QE – chính sách tiền tệ chưa từng được sử dụng trong quá khứ.
  • Trong bối cảnh không thể tiếp tục giảm lãi suất, Fed giới thiệu một loạt các chính sách tiền tệ mới, trong đó nổi bật nhất là QE – chương trình trong đó Fed mua tài sản để tăng cung tiền. Kể từ năm 2008, Fed đã mua hàng tỷ USD các chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản thế chấp (chính tài sản này đã tạo ra khủng hoảng) và hàng tỷ USD trái phiếu kho bạc. Tổng cộng đã có 3 gói QE được đưa ra.
  • QE tiếp tục giữ lãi suất ở mức thấp (một số người cho rằng thấp giả tạo). Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán và trái phiếu đã hồi phục. Tuy nhiên, những người phê phán QE cảnh báo rằng chương trình này khiến lạm phát tăng cao. Kiểm soát lạm phát là ưu tiên hàng đầu của Fed.

8. Tuyên bố của Fed thực sự ảnh hưởng đến thị trường?

  • Thông điệp của Fed rõ ràng hơn sẽ giúp nhà đầu tư có những quyết định đúng đắn trước các diễn biến của nền kinh tế. Các NHTW thường có xu hướng hành động một cách bí ẩn.
  • Các NHTW luôn khiến thị trường dậy sóng bởi những gì họ làm chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đến tương lai nền kinh tế. Trong khi đó, dự báo về tương lai là thứ giúp nhà đầu tư kiếm tiền. Vì thế, bạn có thể hình dung nhà đầu tư sẽ giận dữ thế nào khi họ nghĩ rằng Fed không tuyên bố rõ ràng các dự định.

9. Tại sao tỷ lệ thất nghiệp đóng vai trò quan trọng?

  • Là định chế đã có 100 năm lịch sử, trách nhiệm của Fed luôn luôn được luật pháp củng cố. Đạo luật Việc làm năm 1946 quy định chính phủ phải đặt ra mức trần cho tỷ lệ thất nghiệp. Năm 1977, Quốc hội thông qua Đạo luật cải cách Fed hướng dẫn Fed sử dụng chính sách tiền tệ để cải thiện thị trường lao động và kiểm soát lạm phát. Cuối những năm 1970 là thời kỳ tồi tệ của thị trường lao động và lạm phát.

10. Tại sao Fed bị chán ghét?

  • Ngày nay, Fed vừa phải phải kiểm soát lạm phát, vừa phải giảm tỷ lệ thất nghiệp. Và, đây là một trong những điểm nhận nhiều sự chỉ trích.
  • Các nhà phê bình nhấn mạnh rằng mục đích ban đầu của Fed là ngăn chặn sự hoảng loạn. Nếu như Fed quan tâm đến thị trường lao động, Fed phải giữ lãi suất ở mức thấp để thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, lãi suất thấp là điều kiện để bong bóng phát triển. Năm 2001, bong bóng xuất hiện trên TTCK.

11. Liệu sẽ có một cuộc khủng hoảng tiếp theo?

  • Nếu có thể trả lời được câu hỏi này, bạn đã là thống đốc NHTW. Chắc chắn là Fed sẽ cố gắng để đảm bảo sức khỏe và sự ổn định của nền kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, người ta có thể dễ dàng nhìn thấy các lỗi lầm của NHTW. Trong suốt nhiệm kỳ của mình, cựu Chủ tịch Alan Greenspan được ca ngợi hết lời vì đã tìm ra chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, chỉ đến nhiều năm sau đó, người ta mới nhận ra rằng chính sách lãi suất siêu thấp và giảm bớt các luật lệ đã nuôi dưỡng mầm mống của khủng hoảng.
  • Phải mất nhiều năm, thậm chí là nhiều thập kỷ, để các chính sách tiền tệ phát huy hết tác dụng. Do đó, cách tốt nhất là hãy chú ý đến chúng. Và, đây là một công việc không dễ dàng.

FED Tăng lãi suất ảnh hưởng thế nào đến thị trường Chứng khoán Việt Nam

  • Dòng tiền khối ngoại sẽ không rút ra khỏi thị trường Việt Nam khi FED tăng lãi suất. Rút ra khác với bán ròng, nếu bán ròng TTCK Việt Nam đổ tiền mua trái phiếu khác với việc bán ròng quy đổi ra USD và rút tiền về nước, đây mới là rủi ro.
  • Ngoài ra, quan sát trên thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng khá ổn định, không có biến động mạnh, cho thấy không có dấu hiệu rút vốn lớn từ nhà đầu tư ngoại.
  • Mặc dù FED tăng lãi suất tạo sức hấp dẫn hơn cho đồng USD, nhưng so sánh lợi suất đầu tư trái phiếu Mỹ với lợi suất đầu tư cổ phiếu ở Việt Nam rõ ràng lợi suất đầu tư cổ phiếu Việt Nam cao hơn nhiều.
  • Lần điều chỉnh mạnh nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam trong những đợt FED thắt chặt chính sách tiền tệ là đợt năm 2018, hay cụ thể nhất là tháng 6/2018.
  • Trong năm này, thị trường gặp phải các đợt điều chỉnh lớn do ảnh hưởng tiêu cực từ căng thẳng thương mại Mỹ-Trung và 4 đợt tăng lãi suất liên tiếp của FED khiến dòng vốn nước ngoài rút mạnh khỏi Việt Nam – dòng vốn nước ngoài là một trong những động lực nâng đỡ VN-Index tiến lên những đỉnh cao mới trong khoảng thời gian đầu năm 2018.
  • Dựa trên triển vọng nền kinh tế 2022 và dữ liệu lịch sử, chuyên gia BSC đánh giá: “Khả năng VN-Index sẽ không có những đợt điều chỉnh mạnh như năm 2018 khi FED công bố thắt chặt chính sách tiền tệ.
  • Với lạm phát đang được duy trì ở mức bình ổn và các yếu tố kinh tế vĩ mô trong năm 2022 được dự kiến tích cực, Việt Nam có lẽ không chịu áp lực phải thắt chặt chính sách tiền tệ theo FED.

     

  • Bên cạnh đó, việc FED nâng lãi suất gây áp lực cho dòng tiền nước ngoài rút khỏi thị trường Việt Nam có lẽ cũng không gây tác động quá đáng kể do nhà đầu tư cá nhân trong nước đang chiếm tỉ trọng rất lớn, hơn 85% giá trị toàn thị trường (tính đến cuối năm 2021) và dòng vốn nước ngoài cũng đã rút ròng đáng kể trong năm 2021.
Subscribe
Notify of
guest
0 Bình Luận
Inline Feedbacks
View all comments